RSS

Chỉ số giá tiêu dùng CPI là gì? Nó đo lường cái gì?

CPI là một công cụ đo lường sự thay đổi giá do người dùng chi trả theo …

Rổ hàng hóa và dịch vụ bao gồm những gì?

Hàng hóa và dịch vụ bao gồm: thực phẩm, quần áo, chỗ ở, báo chí và các loại đĩa CD. Các mòn hàng mà người tiêu dùng thường chi tiêu nhiều như : thực phẩm, thì chiếm tỉ trọng lớn, quan trọng, trong việc tính toán chỉ số hơn là cách sản phẩm khác như: kem đánh răng, vé xem phim là những sản phẩm mà người tiêu dùng ít chi tiêu hơn.

Các khoản đầu tư thì sao?

CPI không bao gồm các đồi tượng đầu tư như: cổ phiếu, trái phiếu, bầt động sản, bào hiểm nhân thọ. Những đối tượng này liên quan đến tiết kiệm chứ không phải là sự chi tiêu hằng ngày.

Tại sao nó quan trọng để đo lường nền kinh tế?

CPI đo lường sức mua của người tiêu dùng xài đồng đô.

Mối liên hệ giữa CPI và lạm phát là gì?

CPI đo lường lạm phát được trải qua bởi người tiêu dùng trong việc chi tiêu hằng ngày của họ.
Sự gia tăng trong chỉ số CPI sẽ được nhiều người nghĩ rằng như là “tỉ lệ lạm phát”. Nó được sự dụng bởi các thương nhân bán lẻ để dự đoán giá trong tương lai, bời các ông chủ để tính tiền lương và bởi chính phủ để xác định mức tăng cho quỹ bảo trợ xã hội.

CPI được thu thập và xem xét như thế nào?

Mỗi tháng, các nhà thu thập dữ liệu từ cục thống kê của bộ Lao động ra lệnh cho các trợ lý kinh tế ghế thăm hoặc kêu gọi hàng ngàn cửa hàng bán lẻ, cơ sở dịch vụ, các tổ chức cho thuê, phòng mạch,và toàn bộ Hoa Kỳ để thu thập thông tin giá cả của hàng ngàn đối tượng được sử dụng để theo dõi và đo lường sự thay đổi trong chỉ số CPI. Các trợ lý sẽ lưu lại giá của khoảng 80.000 đối tượng mỗi tháng. Tám mươi ngàn đối tượng giá này diễn tả các mẫu được chọn có tính khoa học được mua bởi người tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ được mua.

Trong suốt mỗi cuộc gọi hay chuyến ghé thăm, các trợ lý kinh tế thu thập giá của một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định, cái mà đã được xác định chính xác từ lần trước. Nếu đối tượng được chọn sẵn sàng, thì giá sẽ được lưu lại. Nếu đối tượng được chọn không sẵn sàng hoặc có sự thay đổi về số lượng hoặc chất lượnag (ví dụ như: trứng được bán trong một gói 8 trứng khi lần trước đã được bán là 12) của hàng hóa hoặc dịch vụ kể từ lần thu thập lần trước, các nhà trợ lý kinh tế chọn một đối tượng mới hoặc ghi lại sự thay đổi của đối tượng hiện tại.

Các số liệu thu thập được sẽ được gởi tới văn phòng quốc gia của Cục thống kê bộ Lao động, các chuyên gia thương phẩm sẽ xem xét chi tiết các thông tin về giá của hàng hóa và dịch vụ Các nhà phân tích sẽ kiểm tra tính chính xác và nhất quán của dữ liệu, và tạo ra những sự điều chỉnh cần thiết.

CPI ảnh hưởng như thế nào đối với đồng tiền của quốc gia?

Dầu hiệu của lạm phát có nghĩa là NHTW sẽ phải tăng lãi suất. Đa số dùng công cụ đo lạm phát là chỉ số CPI. Nếu CPI tăng, thì nó sẽ cho các NHTW như Fed các dự liệu hỗ cho việc tăng lãi suất. Lãi suất tăng thì đồng tiền của quốc gia tăng.

CPI là tên viết tắt tiếng Anh của Chỉ số giá tiêu dùng. Trong rất nhiều trường hợp các quốc gia còn dùng CPI như đại diện cho thông số về lạm phát, mặc dù không phải bao giờ cũng đúng, hoặc chỉ phản ánh tương đối. Chúng ta xem xét ý nghĩa của CPI trong bài viết này, bổ sung cho khái niệm CPI đã có trong phần Tra cứu của Saga. Phần nhiều thông tin và kiến thức ở đây được sử dụng với căn cứ tính toán cho nền kinh tế Mỹ và Anh, do đó khi sử dụng cho Việt Nam thì cần những hiệu chỉnh nhất định để phù hợp thực tế.

Giá cả của hàng hoá dịch vụ luôn luôn biến động theo thời gian, tuy nhiên nếu như giá cả thay đổi quá nhanh chóng, nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số cơ bản đo lường giá cả hàng hoá dịch vụ và cho biết liệu nền kinh tế có bị lạm phát hoặc giảm phát hay không. Chỉ số giả cả thường rất được quan tâm theo dõi và nó đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định tài chính quan trọng như chính sách lãi suất của cục dự trữ liên bang Mỹ hay quyết định tiến hành hedging của các ngân hàng và doanh nghiệp lớn. Cũng rất có lợi cho các nhàđầu tưcá nhân tiến nếu họ tính đến chỉ số CPI khi tiến hành hedging hoặc đưa ra quyết định phân bổ vốn đầu tư.

CPI được hình thành từ các thông tin chi tiêu của hang nghìn hộ gia đình trên toàn quốc. Thông tin được thu thập thông qua phỏng vấn và nhật kí chi tiêu của các đối tượng lựa chọn để nghiên cứu. Rổ hànghoá dịch vụ được sử dụng để tính bao gồm hơn 200 danh mục, thuộc 8 nhóm: thực phẩm và đồuống, nhà đất, may mặc, vận tải, chăm sóc sức khoẻ, giải trí, giáo dục và truyền thông,và một số loại hàng hoá dịch vụ khác. Giá cả của khoảng 800.000 hàng hoá dịch vụ trong rổ tính được thu thập hàng tháng từ hàng ngàn các cửa hàng bán lẻ, các nhà cung cấp dịch vụ, các công ty cho thuê nhà đất và các phòng khám sức khoẻ.

Vậy chỉ số CPI mách bảo điều gì?

Các số liệu trên sẽ hình thành lên một bức tranh về sự biến động của chi phí sinh hoạt từ đó giúp các chuyên gia tài chính nhận định được khả năng lạm phát cónguy cơlàm suy sup cả một nền kinh tế nếu ở lạm phát ở mức độ quá cao. cả lạm phát và giảm phát quá mức đều rất đáng sợ mặc dù giảm phát quá mức ít khi xảy ra hơn.

Chúng ta thường nhìn nhận giảm phát và giảm giá là những dấu hiệu tốt. Và thực tế điều này có thể là tốt trong một chừng mực nào đó. Ví dụ giá của dịchvụđiện thoại đã liên tục giảm xuống trong nhiều năm qua và chắc chắn sẽ còn tiếp tục giảm nữa vì internet ngày càng chiếm ưu thế. Và chắc chắn bạn chẳng bao giờ nghe thấy người tiêu dùng nào phàn nàn về điều này. Tuy nhiên giảm phát chắc chắn cũng là một hiện tượng không tốt đối với nền kinh tế. Bằng chứng là cuộc đại suy thoái diễn ra vào những năm 30 khi mà có cả núi người thất nghiệp không có nổi một đồng để mua hàng hoá và dịch vụ cho dù chúng được chào bán với mức giá cực kì hấp dẫn.

Khi giá cả tăng tới mức không thể kiểm soát nổi thì lạm phát trở thành siêu lam phát. điển hình là ở Đức vào những năm 20, lạm phát của Đức trong thời gian này đã có lúc đạt mức 3.25 triệu phần trăm một tháng. Trong suốt chiến tranh thế giới thứ II, Hy Lạp có mức lạm phát 8.55 tỉ phần trăm một tháng, Hungary thì thậm chí còn kinh khủng hơn. Hungary đã cho phát hành giấy bạc mệnh giá 100 triệu Pengo vào năm 1946 nhưng vào thời điểm này tờ giấy bạc này chả có nghĩa gì do đó chính phủ buộc phải định giá lại đồng tiền của nước mình. Giấy bạc 1triệu pengo giờ đây cũng chỉ có giá tương đương với 1 pengo trước kia, và nghiễm nhiên nó trở thành đơn vị tiền tệ thấp nhất. Đưa ra ví dụ này để thấy được cho dù chỉ số CPI có biến động theo chiều nào thì nó vẫn khiến cho nhiều người phải lo sợ.

Có một số hình thức biến động giá cả trong nền kinh tế, như làm giảmphát hoặc thiểu phát(disinflation) hoặc làm tăng lạm phát (reflation).Làm giảm lạm phát là việc làm cho lạm phát chững lại, nhưng vẫn đang trong tình trạng lạm phát. Khi lạm phát xảy ra đối với một nền kinh tế không tăng trưởng, ta gọi đó là lạm phát đình đốn, khiến cho lạm phát càng trở nên nghiêm trọng.

Một số ứng dụng của CPI

CPI thường được sử dụng để điều chỉnh thu nhập của người dân và các hoạt động kinh tế khác.Cụcan ninh xã hội Mỹ thường xem xét CPI để đưa ra mức thu nhập phù hợp cho người dân, cấu trúc thuế của cục dự trữ liên bang cũng dựa trên CPI để điều chỉnh mức thuế cho phù hợp,và các ông chủ thì sử dụng CPI để điều chỉnh lương nhân viên cho phù hợp với chi phí sinh hoạt. các thông tin về hoạt động bán lẻ, thu nhập theo giờ và theo tuần, tổng thu nhập và tổng sản phẩm quốc dân được gắn kết với CPI để lý giải các chỉ số có liên quan trong thời kì không cóảnh hưởng củalạm phát.

CPI và thị trường

Thay đổi của giá cả của hàng hoá dịch vụ trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến các chứng khoán có lãi suất cố định. Nếu giá cả tăng, các khoản lãi cố định sẽ có giá trị thực tế thấp hơn và do đó làm giảm mức sinh lợi của các chứng khoán. Lạm phát cũng sẽ gây ảnh hưởng đến các khoản tiền lương, trợ cấp, hưu trí vì chúng là các khoản tiền trả cố định. Những người hưởng lương hưu sẽ phải nhìn đồng tiền của họ “biến mất” dần dần vì giảm sức mua theo thời gian.
Biến động giá cả có thể ảnh hưởng xấu đến các công ty. Người ta thường kì vọng mức độ lạm phát nhẹ trong nền kinh tế đang tăng trưởng, tuy nhiên nếu giá cả của các yếu tố đầu vào tăng quá nhanh các nhà sản xuất sẽ bị giảm lợi nhuận. Mặt khác giảm phát chắc chắn sẽ dẫn tới giảm mức cầu của người tiêu dùng. Trong trường hợp này các nhà sản xuất buộc phải giảm giá để bán được hàng, tuy nhiên giá cả các yếu tố đầu vào có thể không giảm một lượng tương ứng. Vì thế biên lợi nhuận của nhà sản xuất cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Tự bảo vệ mình trước tác động của lạm phát.

Tuy nhiên do thị trường ngày càng được hoàn thiện hơn nên các sản phẩm đầu tư có thể giúp ta đối phó với ảnh hưởng của lạm phát. Các quỹ tương hỗ hoặc các ngân hàng có thể mua các chứng khoán ngăn ngừa lạm phát, còn được gọi là TIPS (inflation-protected securities). Ngoài ra còn có thể sử dụng các hợp đồng tương lai để ngăn ngừa rủi ro. Tương tự nhiều người nắm giữ trong tay những cổ phiếu mà các cổ phiếu này lại trở thành một công cụ hết sức hữu hiệu chống lại lam phát. Đầu tư của các cá nhân trong nhiều trường hợp không chỉ bù đắp được thiệt hại do lạm phát gây ra mà cònđem lại một khoản lãi cho người nắm giữ.

CPI có lẽ là chỉ số quan trọng nhất và được quan tâm chú ý nhất. Nó cũng là chỉ số đo lường sự thay đổi trong chi phí sinh hoạt được biết đến nhiều nhất. CPI được sử dụng để điều chỉnh tiền lương, phúc lợi xã hội, lương hưu, thuế và các chỉ số kinh tế khác nữa. Nó cũng cung cấp cho các nhà đầu tư các thông tin về những biến động có thể xảy ra trên thị trường tài chính_nơi mà cổ phiếu có mối quan hệ cả trực tiếp và gián tiếp đối với CPI. Nắm chắc chỉ số giá cả trong tay, các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp và bảo vệ mình bằng cách mua các công cụ đầu tư như TIPS.

Một trong những tác giả được biết nhiều tới các nghiên cứu lạm phát thành công và sâu sắc là Giáo sư Paul Samuelson. Khi nghiên cứu về thông tin lạm phát, nhà vật lý học vĩ đại Stephen Hawkin có trầm ngâm cho rằng hiện tượng lạm phát phức tạp và có thể xem như một hiện tượng vật lý thì đúng hơn là khoa học xã hội-nhân văn… Còn nói chung thì chúng ta với tư cách là người tiêu dùng luôn lo ngại lạm phát cao dẫn tới mất giá đồng tiền, do sụt giảm sức mua.

Nguồn từ: BillBuck

 
Leave a comment

Posted by on March 4, 2012 in Accounting

 

Lạm phát là gì ?

Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng …

Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ. Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dân chúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách v.v…). Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát. Những ví dụ cùng cực nhất của siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3.25 x 106 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4.19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ).
Để đo lường tỉ lệ lạm phát, người ta thường dùng hai chỉ số:

• Chỉ số giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index).
Đây là chỉ số giá thành sản xuất của một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu. Mang so sánh với thời kỳ trước để tính ra tỉ lệ tăng giảm như thế nào. Chỉ số PPI tuy có thể là dấu báo hiệu hiện tượng lạm phát nhưng chưa hẳn lạm phát sẽ bắt buộc phải xảy ra.
• Chỉ số giá cả tiêu thụ CPI (Consumer Price Index).
Chỉ số giá cả của một số nhu yếu phẩm và dịch vụ tiêu biểu. Chỉ số CPI cho biết tỉ lệ lạm phát thật sự đang xảy ra khi so sánh với thời kỳ trước đó. Ảnh hưởng của lạm phát đối với nền kinh tế Lạm phát khó có thể là một điều tốt lành cho nền kinh tế trừ trường hợp ở mức độ nhẹ và trong tầm kiểm soát của chính phủ. Ví dụ, hàng năm chính phủ có thể phát hành thêm một lượng tiền mới để tiêu xài cho những chương trình công cộng hoặc giải quyết thiếu hụt ngân sách khiến đồng tiền được xoay vòng tạo ra thêm của cải, trực tiếp đẩy cao tổng sản lượng quốc dân GDP (Gross Domestic Product) lên thêm một mức. Dĩ nhiên nếu quá đà sẽ có nguy cơ gây ra lạm phát nặng hoặc siêu lạm phát và làm các hoạt động kinh tế sẽ bị tê liệt. Nhiều người quan niệm việc chính phủ in thêm tiền trong giới hạn cho phép của nền kinh tế là một hình thức thu “thuế lạm phát”. Chính phủ sử dụng khoản phụ trội này để quân bình ngân sách với hi vọng sang năm kinh tế tiếp tục phát triển sẽ được nộp ngân sách nhiều hơn. Một chút lạm phát cũng khiến doanh nghiệp kiếm thêm lợi nhuận vì thông thường từ khâu nhập nguyên liệu (giá trước lạm phát) đến lúc hoàn thành sản phẩm bán được cao giá hơn cũng tốt thêm cho doanh vụ.
Ngoài những trường hợp kể trên, bao giờ lạm phát cũng có ảnh hưởng xấu đối với kinh tế. Tỉ lệ lạm phát bao nhiêu là vừa phải cũng tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của từng nơi, đặc điểm của nền kinh tế của từng quốc gia khác nhau. Theo lẽ thông thường thì tỉ lệ lạm phát nếu giữ được ở mức thấp hơn tỉ lệ phát triển kinh tế thì là điều tốt. Do đó, các quốc gia đang ở giai đoạn kinh tế cất cánh (tỉ lệ phát triển xấp xỉ 10%) có thể chấp nhận một tỉ lệ lạm phát cao hơn các quốc gia đã phát triển (tỉ lệ phát triển dưới 5%).
Nguyên nhân đưa đến lạm phát
Có nhiều trường phái kinh tế khác nhau đưa ra các lý thuyết về nguyên nhân đưa đến lạm phát, trong số đó trường phái Neo-Keynesian có vẻ được chấp nhận hơn cả với “mô hình tam giác” nói lên ba dạng lạm phát chính và những nguyên nhân của nó:
• Lạm phát do nhu cầu tăng (Demand-pull inflation).
Lạm phát do nhu cầu sản xuất và dịch vụ (gọi chung là Tổng Thu Nhập Quốc Dân GDP) tăng trong khi tỉ lệ thất nghiệp còn thấp. Còn gọi là Phillips Curve – đường cong Phillips. Nói cách khác là khi nhu cầu kinh tế tăng mà thị trường lao động bị hạn chế sẽ gây lạm phát.
• Lạm phát do đột biến giá cả (Cost-push inflation).
Giá cả một số nguyên vật liệu trọng yếu, ví dụ giá dầu hoả, tăng cao bất thường có thể đưa đến lạm phát vì hiện tượng dây chuyền, các mặt hàng khác sẽ tăng theo.
• Lạm phát sẵn có tự nhiên (Built-in inflation).
Lạm phát sẵn có, liên quan đến hiện tượng “vòng xoắn giá/lương” (price/wage spiral) nghĩa là hiện tượng công nhân luôn luôn muốn được trả lương cao hơn (dĩ nhiên rồi), chủ bắt buộc phải trả thêm vì không tìm đâu ra công nhân nữa, kinh tế phát triển nên ai cũng có công ăn việc làm cả rồi. Người chủ muốn chuyển chi phí phụ trội này qua người tiêu thụ nên tăng giá sản phẩm lên. Công nhân, đồng thời là người tiêu thụ, thấy giá lên lại đòi lương cao hơn nữa. Cái vòng luẩn quẩn này cuối cùng gây ra lạm phát. Cả ba dạng này có thể cộng hưởng và tạo ra mức lạm phát hiện hành của nền kinh tế của một quốc gia.

Tác hại của lạm phát đối với kinh tế
Đối với các quốc gia đang phát triển, tác hại dễ thấy nhất là lạm phát phủ định (negate) tăng trưởng kinh tế nếu bằng hay cao hơn tăng trưởng kinh tế. Ví dụ theo World Factbook, nếu một nền kinh tế tăng trưởng kinh tế ở mức 8.4% nhưng tỉ lệ lạm phát lên tới 8.3%. Như vậy, trung bình người dân có thu nhập cao hơn 8.4% nhưng đời sống sinh hoạt mắc hơn 8.3% cùng thời kỳ thì coi như cũng không tích lũy được gì. Tiêu chuẩn đời sống không được cải thiện bao nhiêu. Nếu không có biện pháp ngăn chận, lạm phát sẽ làm tê liệt dần bộ máy kinh tế vì doanh nhân sẽ không thiết tha hoạt động sản xuất nữa vì không có lợi nhuận. Tâm lý chung sẽ chỉ mua bán “chụp giựt” và chuyển tài sản thành kim loại quý hay ngoại tệ mạnh để tránh lạm phát. Điều này rõ ràng không có lợi cho sự xoay vòng của đồng tiền để phát triển nền kinh tế.

Đối với các quốc gia công nghiệp (industrialized countries) mà xã hội đã chuyển qua dạng xã hội tiêu thụ rồi thì lạm phát tác hại theo một qui trình 3 bước:
– Lạm phát (inflation)
– Giảm phát (deflation)
– Suy thoái kinh tế (economic recession).
Lạm phát không kiểm soát nổi sẽ đưa đến tình trạng giá thành các mặt hàng tăng cao. Giá hàng hóa lên cao sẽ làm giảm nhu cầu tiêu thụ. Hàng hoá trở nên dư thừa và ế ẩm. Để sống còn, công ty sản xuất phải chịu lỗ, hạ giá bán và thu nhỏ hoạt động lại. Một số hãng xưởng sẽ phải đóng cửa và công nhân bị sa thải ra làm nhu cầu chung về tiêu thụ lại càng giảm nữa. Đến đây bắt đầu giai đoạn giảm phát. Hàng hoá sẽ xuống giá cho đến khi nào tìm được một sự quân bình mới giữa cung cầu. Lúc đó kinh tế đi vào giai đoạn suy thoái và tiêu chuẩn sống (standards of livings) của người dân bị giảm sút. Sự tác hại của lạm phát đối với kinh tế sau một thời gian âm ỉ có tính cách bùng nổ như một cơn bệnh cấp tính. Điển hình nhất là cơn đại khủng hoảng kinh tế 1929 tại Mỹ. Chỉ trong một một ngày, giá trị thị trường chứng khoán Mỹ bị mất đi gần một nửa và kinh tế Mỹ bước vào một giai đoạn suy thoái thảm não kéo dài gần hai thập niên sau đó.

Cách chống đỡ lạm phát theo kiểu Mỹ
• Giao quyền hạn cho Cục Dự trữ Liên Bang (Federal Reserves) còn gọi là Ngân Hàng Alan Greenspan – Cái tên gắn liên với FED
• Trung Ương (Central Bank) nhiệm vụ theo dõi tình hình phát triển kinh tế và lạm phát để kịp thời đề ra những biện pháp thích nghi. Vũ khí chính của Cục Dự trữ Liên Bang (FED) là lãi suất cho vay. Khi nào muốn kích thích kinh tế thì giảm lãi xuất xuống. Ngược lại khi thấy có dấu hiệu lạm phát thì tăng lãi xuất, kềm hãm sản xuất lại, không để lạm phát có cơ hội phát triển. Một biện pháp khác của FED là tăng hay giảm lưu lượng (liquidity) đồng dollar đang lưu hành trong dân chúng. Khi cần rút bớt lưu lượng tiền, FED sẽ bán đấu giá trái phiếu kho bạc (bonds) của chính phủ nhiều hơn. Khuynh hướng tự nhiên là sẽ giảm hoạt động kinh tế vì các nhà đầu tư giữ công khố phiếu để lấy lời, không sẵn tiền để hoạt động sản xuất nữa.
Ngược lại khi muốn kích thích kinh tế, FED có thể thu mua trái phiếu và tung thêm tiền vào lưu lượng sẵn có.
• Mở rộng thị trường lao động bằng cách đưa ra nước ngoài (outsource) một số kỹ nghệ không có tính cách quốc phòng.
• Thỏa hiệp giữa các nghiệp đoàn chủ nhân và thợ thuyền về lương để đôi bên cùng có lợi, phần nào ổn định mặt chi phí về lương (cộng thêm phúc lợi có thể chiếm đến ¾ giá thành sản phẩm tại Mỹ).
• Ổn định các khu vực nóng để kiểm soát các nguồn nguyên liệu tối cần thiết như dầu hỏa, than mỏ.
• Giữ gìn trật tự toàn cầu, không để những đột biến chính trị và khủng bố làm mất ổn định khu vực.

Nguồn từ: BillBuck

 
Leave a comment

Posted by on March 4, 2012 in Accounting

 

Bauxite là gì?

Bauxite (hay Bô xít) là một loại quặng nhôm trầm tích có màu hồng, nâu được hình thành từ quá trình phong hóa các đá giàu nhôm hoặc tích tụ từ các quặng có trước bởi quá trình xói mòn. Quặng bô xít phân bố chủ yếu trong vành đai xung quanh xích đạo đặc biệt trong môi trường nhiệt đới. Từ bôxit có thể tách ra alumina (Al203), nguyên liệu chính để luyện nhôm trong các lò điện phân, chiếm 95% lượng bôxít được khai thác trên thế giới. Tên gọi của loại quặng nhôm này được đặt theo tên gọi làng Les Baux-de-Provence ở miền nam nước Pháp, tại đây nó được nhà địa chất học là Pierre Berthier phát hiện ra lần đầu tiên năm 1821.

Hình thành

Bô xít hình thành trên các loại đá có hàm lượng sắt thấp hoặc sắt bị rửa trôi trong quá trình phong hóa. Quá trình hình thành trải qua các giai đoạn:
1) phong hóa và nước thấm lọc vào trong đá gốc tạo ra ôxít nhôm và sắt;
2) làm giàu trầm tích hay đá đã bị phong hóa bởi sự rửa trôi của nước ngầm;
3) xói mòn và tái tích tụ bô xít.
Quá trình này chịu ảnh hưởng của một vài yếu tố chính như
a) đá mẹ chứa các khoáng vật dễ hòa tan và các khoáng vật này bị rửa trôi chỉ để lại nhôm và sắt;
b) độ lổ hổng có hiệu của đá cho phép nước thấm qua;
c) có lượng mưa cao xen kẽ các đợt khô hạn ngắn;
d) hệ thống thoát nước tốt;
e) khí hậu nhiệt đới ẩm;
f) có mặt lớp phủ thực vật với vi khuẩn. Theo một mô hình mô phỏng quá trình này thì giá trị pH thích hợp đạt khoảng 3,5-4,0.

Đào mỏ là một hoạt động ô nhiễm môi trường thiên nhiên và nguy hiểm.

Dù quy hoạch khai thác thế nào chăng nữa đào mỏ là đụng đến “long mạch”, nghĩa đến hệ thống nước tự nhiên. Nếu nước chảy trên mặt đất thì có thể dự báo luồng nước sẽ chảy về hướng mới nào. Nhưng khó ai có thể biết những luồng nước ngầm ở đâu và đoán trước được nước sẽ chảy đi đâu. Ngoài ra, những tảng đá bị đập vỡ sinh ra những diện tích trao đổi hóa học và sinh học mới giữa nước và khoáng vật. Khó ai biết hệ thống nước tự nhiên sẽ có đặc tính hóa học và sinh học mới như thế nào.

Điều biết chắc là, sau khi một mỏ ngưng hoạt động thì cảnh quan, môi trường thiên nhiên sinh thái và đời sống kinh tế xã hội địa phương sẽ hoàn toàn khác hẳn xưa. Đó là một điều tốt hay xấu tùy ở tình huống cá biệt của quy hoạch khai thác mỏ và phương pháp hoàn thổ sau khi mỏ ngưng hoạt động.

Đào mỏ lộ thiên

Nếu lớp đất đá có quặng ở gần mặt đất hay ở dưới những lớp đất đá không có quặng không dày lắm thì người ta dùng phương pháp đào mỏ lộ thiên: cạo những lớp đất đá vô quặng ở trên lớp có quặng rồi lấy đất đá có quặng để xử lý trích quặng (hình 1 và 2). Đây là phương pháp thông dụng nhất.

Hình 1 – Phương pháp cạo núi

Đào mỏ lộ thiên sinh ra nhiều bụi.

Để giảm thiểu bất tiện đó thì người ta rào công trường bởi một hàng bụi cây dày đặc và công nhân phải đeo mặt nạ phòng bụi. Nhưng đeo mặt nạ thì cũng vẫn hít một lượng bụi lớn. Những hạt bụi dính vào hốc phổi làm cho những tế bào ở đó chết đi. Đó là bệnh silicosis mà, thời Pháp thuộc, dân quê đồng bằng Bắc Bộ tưởng nhầm là bệnh lao khi đi làm phu ở các mỏ than Quảng Ninh và bị mắc bệnh này. Dù với hàng rào cây đó hay không, những vùng lân cận vẫn có bụi. Bụi bay trên trời và bám vào nhà cửa, quần áo, bàn ghế, xe cộ… Bụi bám vào cây cỏ làm cho thảo vật bạc mầu và héo. Con người và súc vật thở một không khí nhiễm bụi và cũng mắc bệnh silicosis. Bụi xâm nhập vào chuỗi thực phẩm vì rau quả bị nhiễm, gia súc bị nhiễm vì thở khí có bụi và ăn cây cỏ bị nhiễm. Có công nhân mỏ về hưu vì mất sức lao động chỉ còn có một nửa lá phổi để sống!

Ở những mỏ lộ thiên cảnh quan bị con người thay đổi trầm trọng:

Dân địa phương phải dọn đi sinh sống ở nơi khác,cây cối bị đốn để giải phóng địa bàn cho công trường khai đào, một lượng lớn đất bị khai đào và chất đống ở nơi khác.

Những phương pháp giảm thiểu những hậu quả xấu đó:

lưu trữ riêng đất mùn cây để sau này có thể dùng để phủ lại những diện tích đã bị cạo trọc và trồng lại cây đã bị đốn khi khu mỏ sẽ ngưng hoạt động,
lưu trữ đất đá không có quặng để sau này có thể đắp lại những nơi đã bị khai đào,
sau khi khai thác hết khu mỏ thì cải tạo cảnh quan như cũ, phục hồi những sinh hoạt lâm nghiệp nông nghiệp và, nếu có thể, phục hồi môi trường thiên nhiên sinh thái hay tạo ra một môi trường thiên nhiên sinh thái khác hài hòa với thiên nhiên.

Dù sao thì cũng không thể đắp lại được hết tất cả những nơi đã bị khai đào.

Quá lắm thì những chỗ trũng còn lại có thể dùng làm hồ nuôi cá hay làm khu du lịch nghỉ dưỡng. Đất đá bị đập vỡ không còn trạng thái đặc cứng xưa nên rừng sẽ không mọc lại như xưa và đồng ruộng phải được canh tác theo lối khác. Những dòng sông cũng như dòng nước ngầm cũng sẽ không chảy như xưa nữa.

Đào mỏ hầm

Nếu lớp đất có quặng ở sâu dưới mặt đất thì người ta dùng phương pháp đào hầm để bớt phải đào và vận chuyển nhiều đất đá không có quặng (hình 3).

Với phương pháp này, người ta đào hai cái giếng ở hai đầu khu mỏ. Một giếng dùng để thổi gió thông hơi hầm và một giếng dùng để thoát gió. Dưới mặt đất, người ta đào một mạng đường hầm liên kết hai giếng này. Hai giếng và mạng đường hầm cũng dùng để người lên xuống đi lại và để vận chuyển khí cụ, vật liệu và đất đá.

Hình 3 – Phương pháp đào hầm

So với những phương pháp lộ thiên, phương pháp đào hầm xâm phạm môi trường thiên nhiên trên mặt đất ít hơn vì ngoài đất của giếng và những đường hầm giao liên, người ta chỉ đào và vận chuyển ra ngoài đất đá có quặng thôi. Nhờ đất mùn cây ở nguyên tại chỗ, cảnh quan thiên nhiên bị xúc phạm ít hơn và nếu bị xúc phạm thì phục hồi mau hơn. Nếu lớp đất đá không có quặng ở trên lớp đất đá có quặng rắn và dày thì cảnh quan ngoài trời không bị ảnh hưởng gì đáng kể. Quá lắm thì những tường nhà có thể rạn nứt.

Nhưng khi trần hầm sập thì mặt đất ở trên khu mỏ có thể bị lún (hình 3b) làm nguy hại đến nhà cửa. Cả chục năm sau khi khu mỏ đã được khai thác hết, trần hầm vẫn có thể tiếp tục sập và nếu chưa sập thì vẫn còn khả năng một ngày nào đó sẽ sập. Vì lý do an toàn diện tích đất ở trên một khu mỏ chỉ có thể dùng để trồng rừng, làm ruộng và nuôi súc vật thôi.

Với phương pháp đào hầm thì bụi bị kìm hãm trong hầm. Khói từ những công cụ khai đào và khói từ những chất nổ dùng để đập vỡ đất đá cũng bị kìm hãm trong hầm. Để giảm thiểu những hậu quả xấu cho an toàn vệ sinh lao động người ta phun nước gần nơi khai đào để cho bụi và khói mau lắng xuống đất. Nhưng dù áp dụng những phương pháp này nồng độ bụi và khói trong hầm vẫn cao hơn là ở ngoài trời nên tỷ lệ công nhân mỏ bị silicosis và những bệnh của bộ hô hấp cao hơn là ở những mỏ lộ thiên.

Môi trường thiên nhiên lao động trong hầm rất nóng và ẩm. Khi xuống dưới lòng đất thì nhiệt độ tăng. Thêm vào đó, những động cơ tỏa nhiệt mà nhiệt lượng không thể thoát đi đâu được. Ở nhiệt độ cao, nước ngầm và nước mang từ bên ngoài bốc hơi tạo ra một không khí có độ ẩm cao. Để công nhân có thể thở và làm việc ở một nhiệt độ mà con người có thể chịu đựng được, người ta thổi vào hầm gió đã được làm lạnh. Vì làm việc nặng nhọc ở những nơi eo hẹp, nóng, ẩm và nguy hiểm hơn, tỷ lệ công nhân bị tai nạn cao hơn là ở những mỏ lộ thiên. Đất đá rơi từ trần hầm là nguồn tai nạn chính. Ở các hầm mỏ than lại còn có nguy cơ khí methan nổ

Chế biến bauxit thành nhôm

Nguyên tử nhôm (Al) chiếm 8,1% vỏ quả đất, nhiều hạng ba trên địa cầu sau nguyên tử oxy (O) và silic (Si). Đất đá có quặng nhôm gọi là bauxit, sinh ra từ sự phân hoá đất đá khi khí hậu luân phiên khô và ẩm. Một tụ quặng bauxit đáng được khai thác chứa 40 đến 60% alumin, nghĩa là oxyd aluminium Al2O3. Những khoáng vật khác chứa trong quặng bauxit là oxyd sắt, oxyd silic và oxyd titan[25].

Nhôm tự nhiên trong quặng ở ba dạng khoáng vật:

Boehmite, mono hydrat alumin Al2O3(H2O), ở các nước có khí hậu kiểu Địa Trung Hải như Pháp, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ,…

gibbstite, tri hydrat alumin Al2O3(H2O)3, ở các nước nhiệt đới như Guinea, Nam Mỹ, Ấn Độ, Australia,…

và diaspore, một dạng mono hydrat và tri hydrat, ở các nước vùng Caribbean.

Đa số những mỏ bauxite ở gần mặt đất và được khai thác lộ thiên. Sau khi được hiệu chỉnh trong suốt thế kỷ thứ XIX, công nghệ chế biến nhôm từ bauxit thành nhôm bây giờ đã ổn định (hình 6).

Quy trình chế biến nhôm từ bauxit

So với những phương pháp biến chế quặng thành kim loại khác, những khâu khai thác mỏ, xử lý đất đá và tinh luyện kim loại không có gì đặc biệt về kỹ thuật cũng như về bảo vệ an toàn vệ sinh, y tế và môi trường thiên nhiên.

Phân loại khoáng vật theo quy trình Bayer, tên người sáng chế quy trình này. Quy trình diễn biến như sau:

(a) hoà tan hydrat alumin của bauxit trong một dung dịch hydroxyd natri NaOH ở nhiệt độ 200/250 C để tạo ra aluminat natri NaAlO2,

(b) lọc những dung dịch để loại bùn đỏ chứa những chất bẩn, chủ yếu gồm bởi những oxyd chứa trong quặng bauxit,

(c) chờ cho dung dịch nguội để cho aluminat natri trở lại dạng hydrat alumin và kết tủa,

(d) lọc một lần nữa để hoàn nguyên hydroxyd natri,

(e) nung hydrat alumin để có alumin Al2O3.

Quy trình Bayer chế biến alumin từ bauxit

Phần lớn alumin, khoảng 90%, dùng để sản xuất nhôm. Nhưng vì alumin là một vật liệu rắn và chịu lửa nên cũng được dùng để sản xuất vật chịu lửa và chất mài. Một phần nhỏ dùng để sản xuất kem đánh răng và đèn huỳnh quang.

Oxyd sắt và oxyd silic là phế liệu của quy trình Bayer thải ra dưới dạng bùn nổi tiếng được gọi là bùn đỏ. Bùn đỏ đặt vấn đề môi trường vì hydrat natri vẫn còn bám vào những hạt oxyd sắt oxyd silic. Nếu không thì hai khoáng vật này chỉ đặt vấn đề thẩm mỹ rất ấn tượng. Người ta có thể xấy bùn cho khô để làm phụ gia bêton cho ngành cầu đường. Nhưng phương pháp này tiêu thụ rất nhiều năng lượng tốn kém hơn là giá trị những chất phụ gia bêton khác. Ngoài ra tiêu thụ năng lượng thì sinh ra bụi và khí có hiệu ứng nhà kính. Đâu vào đó và với trình độ công nghệ hiện nay, phương pháp loại bùn đỏ là bơm xuống một hố sâu dưới đáy biển hay đổ vào một hồ nhân tạo hay một chỗ trũng.

Người ta khử oxy của alumin bằng phương pháp điện phân Heroult Hall, tên hai người sáng chế ra phương pháp này. Alumin chảy lỏng ở nhiệt độ 2.200 C. Để giảm nhiệt độ chảy lỏng xuống còn 950/1.000 C người ta trộn alumin với cryolith Na3AlF6 và một phần fluorid nhôm AlF3. Dưới điện thế 4 volt và 350.000 ampere, alumin được khử oxy và nhôm chảy lỏng được hút ra ngoài thùng điện phân và đúc thành thỏi thương phẩm (hình .

Thùng điện phân nhôm (dựa theo Wikipedia)

Cryolith có nguyên tử fluor và những điện cực làm bằng cacbon. Ở nhiệt độ cao trong lò điện phân hai vật này bốc hơi. Người ta dùng một mũ chụp thu hồi chúng và dùng lại. Nhưng cũng có một phần thoát ra khí quyển gây ô nhiễm môi trường thiên nhiên. Fluorit rất độc hại cho con người và những sinh vật khác. Cacbon và khí oxy trong khí quyển biến thành oxyd cacbon, một khí có hiệu ứng nhà kính.

Những phương pháp xử lý đất đá có quặng

Đất đá có quặng gồm bởi nhiều loại khoáng vật. Để tách quặng khỏi những đất đá khác bao quanh, người ta phải đập vỡ những cục đá có quặng. Những cục đá đó có thể được lựa sơ bộ để loại những cục không có quặng.

Sau đó, người ta nghiền và sàng những cục đá thành bột. Người ta nghiền đá nhuyễn tới một đường kính đủ nhỏ đề mỗi hạt bột chỉ có duy nhất một loại khoáng vật. Trước khi gửi đi nhà máy phân loại khoáng vật người ta kết tụ bột thành những viên hay những khối để vận chuyển dễ dàng.

Quy trình nghiền và sàng đất đá tiêu thụ nhiều năng lượng, rất ồn ào và sinh ra bụi. Làm việc thường xuyên ở môi trường thiên nhiên ồn ào sẽ bị bệnh suy thính và có thể bị điếc. Quy ra khối lượng đất đá được xử lý thì bụi sinh ra ở khâu này dễ khống chế hơn ở khâu đào mỏ lộ thiên.

Để giảm thiểu những hậu quả xấu này, công nhân phải đeo mảnh che tai chống tiếng động và mặt nạ chống bụi, những máy đập và những máy nghiền sàng phải có bộ lọc bụi, công xưởng có những cỗ máy này cũng phải có hệ thống thông gió trang bị bộ lọc bụi. Tuy nhiên, dù có những thiết bị đó, những vùng lân cận vẫn ồn ào, bụi bậm và tỷ lệ công nhân bị suy thính và mắc bệnh silicosis vẫn cao hơn ở những ngành công nghiệp khác.

Những phương pháp phân loại khoáng vật

Hàm lượng quặng trong những viên bột có thể rất ít, tỷ dụ vàng trong cát sỏi, nhưng có thể lên tới 70/80 phần trăm với trung bình là non 40 phần trăm. Người ta sàng lọc những viên bột quặng bằng cách lợi dụng những khoáng vật có khả năng hút nước, tỷ trọng, tĩnh điện tính, từ tính và/hay khả năng bị hòa tan khác nhau.

Nước bám vào một viên bột làm cho tỷ trọng trung bình của viên bột đó thay đổi. Sau khi nghiền đất đá có quặng thành bột, đổ bột vào một thùng nước, khuấy hỗn hợp đó và để lắng một hồi thì những viên bột tách ly tùy theo tỷ trọng trung bình của chúng. Sau đó chỉ cần hút hỗn hợp nước và bột ở tầng có quặng. Nếu nước không tách ly những khoáng vật khác nhau một cách đủ rõ rệt thì có thể pha thêm vào nước một vài chất hóa học như oxalic acid, xanthate hay dithiophosphate. Những chất hóa học này có tác động thay đổi tỷ trọng của nước và tỷ số tẩm ướt (dampening index) của nước với diện tích những hạt khoáng vật.

Khi chạy một máy lắc, máy xoắn, hay máy ly tâm thì những viên bột khoáng vật tách ly tùy theo tỷ trọng của chúng. Khi đổ bột đất đá có quặng không dẫn điện vào một thùng có điện tích thì những viên khoáng vật khác nhau sẽ tách ly tùy tĩnh điện tính của chúng. Khi đổ bột đất đá có quặng trên một xylanh đang quay đã được từ hóa thì những khoáng vật có từ tính khác nhau sẽ tách ly tùy từ tính của chúng.

Tất cả những phương pháp phân loại khoáng vật kể trên đều dùng nhiều nước. Sau khi lọc những viên bột quặng vẫn còn ướt. Sau khâu tách ly, người ta xấy bột bằng cách thổi khí nóng để cho bột ráo. Quy trình xấy này thải ra nhiều khí có bụi có chứa chất hóa học và cũng tiêu thụ nhiều năng lượng. Với công nghệ hiện đại, người ta đốt nhiên liệu không hoàn nguyên và sinh ra dioxyd cacbon, một khí có hiệu ứng nhà kính. Lượng khí này đáng kể nhưng ít hơn nhiều so với lượng khí rất lớn sinh ra từ những khí cụ đào mỏ, vận chuyển vật liệu và đập vỡ đất đá.

Dù không dùng phương pháp hòa tan khoáng vật, người ta cũng thường thêm vào nước ít nhiều chất hóa học tạo ra một dung dịch hóa học. Một số khoáng vật có thể hòa tan trong dung dịch đó và một số khác lắng xuống đáy thùng phản ứng. Sau khi lọc dung dịch để tuần hoàn, người ta đổ bùn trong một hồ nhân tạo hay một chỗ trũng chờ cho chất lỏng vẫn còn bám vào những vật liệu rắn bốc hơi. Sự có mặt của hồ chứa là một nguy cơ cho sức khỏe và môi trường vì nước đọng trong ao tù là nơi sinh sản của những côn trùng. Chất lỏng với những chất hoá học độc hại trong hồ có thể chảy ra ngoài vòng kiềm chế của nhà máy, gây lụt và ô nhiễm hóa học những vùng lân cận nếu: hồ chứa không đủ lớn để chứa tất cả nước mưa lũ,đê đập hồ chứa bị vỡ vì đã không được thiết kế kỹ và được xây dựng kiên cố, lòng hồ chứa không được lát bằng một lớp không thấm bền vững để cho bùn thấm vào lòng đất.

Một khi ô nhiễm như vậy rồi thì đất sẽ trở nên vô sinh không còn cây cỏ nào mọc ở đó nữa và nếu có thảo vật mọc được thì cây cỏ bị nhiễm độc, sinh vật ăn cây cỏ đó cũng sẽ bị nhiễm và, theo chuỗi thực phẩm, con người cũng bị nhiễm lây.

Sau khi khu mỏ ngưng hoạt động những hóa chất và vật liệu nguy hiểm khác vẫn còn ở dưới lòng hồ thể hiện một đe dọa về y tế. Sau khi khô thì những vật liệu đó sẽ thành bụi và có thể bị gió thổi đi xa. Để chống lại rủi ro này, sau khi hồ cạn thì người ta phủ mặt hồ với một tấm vải nhựa và lấp ở trên một lớp đất đá.

Những phương pháp tinh chế sản phẩm

Một khoáng vật có thể tự nhiên ở trạng thái nguyên chất ròng như là cacbon (kim cương), lưu huỳnh, vàng, đồng, platinium,… Sau khi tinh luyện, những khoáng vật đó có thể được dùng ngay làm nguyên liệu cho công nghiệp. Đại đa số khoáng vật khác ở trạng thái hỗn hợp các phân tử silicate, carbonate, sulfate, halide, oxyd, sulfid, phosphate hay hữu cơ. Những kim loại thường ở trạng thái oxyd và sulfid. Một số nhỏ ở trạng thái chlorid.

Tùy khoáng vật và tùy điều kiện kinh tế địa phương, người ta tinh chế sản phẩm theo một chuỗi quy trình xử lý hỏa luyện (pyrometallurgy), thuỷ luyện (hydrometallurgy) và điện luyện (electrometallurgy).

Nói chung về ô nhiễm môi trường thiên nhiên thì:

phương pháp hỏa luyện sinh ra nhiều bụi trộn với sulfur dioxyd và carbon dioxyd, hai khí có hiệu ứng nhà kính,

phương pháp thuỷ luyện ô nhiễm khí quyển ít hơn nhưng đặt vấn đề xử lý nước thải tương tự như ở khâu phân loại khoáng vật,

phương pháp điện luyện tiêu thụ rất nhiều điện và quy tụ những phiền phức của hai phương pháp trên nhưng ít hơn so với khối lượng được xử lý.

Sau khi tinh chế cơ bản như kể ở trên thì có kim loại ở trạng thái bột, chất xốp hay tảng vẫn còn chứa nhiều chất bẩn. Để đạt những tiêu chuẩn về độ tinh chế theo đòi hỏi của công nghiệp người ta dùng nhiều phương pháp tinh chế vật lý và hóa học khác. Sau khi đạt được độ tinh chế đó, người ta cũng có thể trộn những kim loại khác nhau để có những hợp kim có đặc tính cơ học và hóa học theo đòi hỏi của công nghiệp. Sau những khâu xử lý cuối cùng đó thì công ty khoáng sản có thể đưa ra thị trường những thương phẩm trung gian dưới đủ mọi hình dáng: những cuộn dây, những tấm tôn, những tấm mỏng hay dày, những thanh dài và những thỏi.

Hạ tầng hậu cần và công nghiệp phụ trợ

Một dự án khai thác mỏ cần nhiều hạ tầng hậu cần và công nghiệp phụ trợ.

Chi phí vận tải trong dây chuyền khai thác mỏ, xử lý đất đá, phân loại quặng và tinh chế sản phẩm lớn so với giá trị của thương phẩm vì: nơi khai thác mỏ và nơi chế biến quặng hay khoáng sản cách xa nhau,
quặng, khoáng vật, dù đã được phân loại, và sản phẩm, dù đã được tinh luyện, là những sản phẩm quy ra trọng lượng và khối lượng có giá trị thương mại rất thấp.
Để giảm thiểu chi phí vận tải, người ta cố gắng tìm cách xử lý đất đá ngay tại nơi khai thác mỏ, phân loại khoáng vật gần nơi khai thác mỏ và tinh chế sản phẩm ở ngay bên cạnh nhà máy phân loại khoáng vật. Tỷ dụ những tổ hợp gang thép đã được thành lập tại Lorraine, bên Pháp, hay Ruhrgebiet, bên Đức, những vùng khi xưa có những mỏ sắt và mỏ than. Cũng để giảm thiểu chi phí vận tải người ta ưu tiên dùng những phương tiện rẻ nhất khi phải xuất khẩu quặng hay khoáng vật: đường sắt từ khu mỏ đến hải cảng gần nhất rồi đường thuỷ đến nơi nhận. Tỷ dụ, ở Mauritania, người ta xây 650 km đường sắt để cho mỗi ngày một đoàn tầu gồm bởi ba đầu tầu và 200 toa tầu chở được 24.000 tấn quặng sắt từ mỏ Kedia d’Idjil đến cảng Casado. Ở nước nhập khẩu, người ta tìm cách đặt những nhà máy chế biến ở bến cảng tiếp nhận những quặng hay khoáng vật. Vì thế mà người ta lập khu gang thép ở hải cảng Fos, đầm Etang de Berre, miền Nam nước Pháp, để chế biến thép từ quặng sắt chở từ Mauritania và Nam Mỹ đến. Cũng vì thế mà xung quanh Etang de Berre có tới ba nhà máy lọc dầu, một trạm cuối tiếp nhận khí tự nhiên từ cảng Skida, bên Algeria, một nhà máy nhiệt điện lớn và vô số nhà máy hoá chất tiêu thụ phụ phẩm của các nhà máy kia.

Hệ thống hậu cần này đơn giản:

bên nước xuất khẩu thì có một đường sắt, một ống dầu hay một ống khi tự nhiên nối liền khu mỏ với một hải cảng,
bên nước nhập khẩu cũng lại có một đường sắt, một ống dầu hay một ống khí tự nhiên nối liền hải cảng với khu công nghiệp chế biến,
và ở giữa là một đội tầu chuyên môn chở hàng rời với những kho bãi và thùng chứa.
Nhưng vì trọng lượng và khối lượng phải vận chuyển lớn, hệ thống hậu cần này phải có công suất lớn hơn nhiều hệ thống hậu cần của những ngành sản xuất khác.

Như viết ở những phần trên, ngành khai thác mỏ cần đến hoá chất và nhiều năng lượng. Năng lượng trong ngành khai thác mỏ thường là điện và năng lượng hoá thạch. Vậy khi thiết kế một dự án khai thác mỏ thì phải tính thêm những cơ sở sản xuất những hoá chất và năng lượng đó. Tỷ dụ, trong chuỗi xử lý bauxit thành nhôm thì có một khâu cần đến hydroxyd natrium nên một nhà máy điện phân bauxit thành nhôm phải được kèm thêm một nhà máy hoá chất này.

Trong quy trình xử lý, hoá chất thường được tuần hoàn, tức là dùng lại. Nhưng nhu cầu về hoá chất vẫn còn lớn để thay thế những lượng bị thất lạc trong quy trình tuần hoàn hay trong những quy trình chế biến khác. Nếu không có nguồn hoá học tại chỗ thì phải nhập từ xa đến.

Năng lượng hoá thạch và hoá chất có thể mang từ xa đến những nhà máy xử lý khoáng sản. Nhưng điện thì phải sản xuất tại chỗ. Nếu không có điện với giá rẻ thì chỉ có cách là chở quặng đến một nơi khác có giá điện rẻ. Vào thập niên 1960, người ta xây một nhà máy luyện nhôm ở Mourenx, miền Tây Nam nước Pháp, để lợi dụng nguồn điện sản xuất từ một mỏ khí tự nhiên gần đó. Sau khi nguồn khí tự nhiên đó cạn nhà máy điện ngưng hoạt dộng. Người ta xây lại một nhà máy luyện nhôm lớn hơn tại Dunkerque, miền Bắc nước Pháp, và xây một nhà máy điện hạt nhân để cung cấp điện cho nhà máy luyện nhôm. Người ta xây hai nhà máy này ở bờ biển và xây thêm một hải cảng riêng để bớt phải vận chuyển bauxit được mang đến bằng tầu thuỷ.

Cung cấp những hoá chất và năng lượng đó sinh ra ô nhiễm. Hai nguồn ô nhiễm quan trọng này cộng với những nguồn ô nhiễm chúng tôi kế ở những phần trên làm cho ngành khai thác mỏ là ngành công nghiệp ô nhiễm nhiều nhất quy ra giá trị của sản phẩm cuối cùng.

Khai thác mỏ là ngành công nghiệp cần đến nhiều hạ tầng hậu cần với công suất cao và những nguồn năng lượng dồi dào, đặc biệt là điện. Đào mỏ xâm phạm nặng đến môi trường thiên nhiên. Lao động trong ngành khai thác mỏ nguy hiểm và có thể mắc nhiều bệnh trong đó bệnh silicosis là chính. Đời sống của dân xung quanh cũng bị ảnh hưởng bởi bụi, khói và tiếng động do công trường và những nhà máy sinh ra.

Các kỹ sư mọi ngành chuyên môn đều có nhiệm vụ chế tạo những sản phẩm kinh tế quốc dân cần đến mà cùng lúc vẫn phải bảo đảm an toàn lao động, an toàn vệ sinh y tế của người dân và toàn vẹn môi trường thiên nhiên. Nhưng, từ thời tiền sử khi nhân loại bắt đầu khai thác mỏ cho tới nay, an toàn, vệ sinh, y tế và môi trường thiên nhiên vẫn là những vấn đề lớn mà những người khai thác mỏ phải đương đầu.

Đặng Đình Cung
Kỹ sư tư vấn (Pháp)

A. Sản Xuất Aluminum.

B. Tái chế Aluminum.

Bauxite ảnh.

Nhôm ảnh.

Một số kiến thức cơ bản ABC về khai thác bô-xit và sản xuất alumin

Dowload ở đây !

 
Leave a comment

Posted by on March 4, 2012 in Chemistry

 

Các báo cáo tài chính cơ bản giúp bạn điều hành doanh nghiệp

1. Bảng cân đối kế toán
Nó dùng để đánh giá doanh nghiệp đang tiến triển thế nào. Bạn có thể sử dụng bảng cân đối kế toán để đánh giá tình hình tài chính, nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp của bạn.
Nó rất hữu ích khi bạn nhìn vào khía cạnh lợi nhuận và chi phí bởi vì qua bảng cân đối kế toán bạn có được một bức tranh tổng thể
Sử dụng bảng cân đối kế toán để đảm bảo một khoản vay: Khi bạn đi vay ngân hàng, các ngân hàng thường yêu cầu bạn nộp báo các kế toán để họ đánh giá khả năng hoàn trả nợ của bạn. Nếu bạn có một bàng cân đối kế toán tốt, bạn sẽ có nhiều cơ hội được vay vốn ngân hàng.
2. Báo cáo kết quả kinh doanh(Báo cáo lãi lỗ)

Báo cáo kết quả kinh doanh hoặc báo cáo lãi lỗ cho bạn biết doanh nghiệp bạn kiếm được bao nhiêu tiền sau khi đã trừ đi hết chi phí. Báo cáo kết quả kinh doanh được đọc từ trên xuống và cho biết doanh thu và chi phí cho một khoảng thời gian nhất định. Một bảng báo cáo kết quả kinh doanh sẽ không chỉ ra những vấn đề như không đủ tiền mặt luân chuyển. bạn cần phải chuẩn bị Báo cáo lưu chuyển tiền tệ để xem bạn có vấn đề gì về việc không đủ tiền mặt để lưu chuyển trong quá trình hoạt động.
3. Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
.
Sử dụng dự báo dòng tiền mặt như một công cụ kinh doanh
Một bảng dự báo dòng tiền mặt có thể là một công cụ kinh doanh rất quan trọng nếu nó được sử dụng hiệu quả. Hãy nhớ rằng nó là một báo cáo động – bạn cần thay đổi và điều chỉnh nó thường xuyên phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh, các khoản chi trả và nhu cầu của nhà cung cấp.

Việc thay đổi bảng dự báo này cũng rất hữu ích, thay dổi các con số về doanh số bán hàng, về mua sắm và chi phí nhân viên. Những thay đổi về luật pháp, lãi suất và thuế cũng ảnh hưởng đến bảng dự báo này.

Để có điều chỉnh về bảng dự báo tiền mặt, bạn cần:

  • Xem xét các vấn đề có thể xảy ra và tìm giải pháp cho chúng
  • Xác định bất cứ sự thiếu hụt tiền mặt tiềm ẩn nào và có những biện pháp phù hợp
  • Đảm bảo bạn có đủ tiền mặt trước khi bạn định làm bất kỳ cam kết tài chính quan trọng nào

– Sử dụng dự báo tiền mặt để tránh kinh doanh….
Có một dự báo dòng tiền mặt chính xác sẽ đảm bảo cho bạn đạt được sự tăng trưởng ổn định mà không phải kinh doanh vượt mức. Bạn biết rằng khi bạn có đủ tài sản để mở rộng kinh doanh – và rất quan trọng nữa là khi bạn cần phải củng cố việc kinh doanh. Điều này giúp bạn đảm bảo cho nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp đều hài lòng. Xin xem hướng dẫn về làm thề nào để tránh những vấn đề kinh doanh vượt mức.Một điều rất quan trọng là bạn đưa những dấu hiệu cảnh báo vào dự báo dòng tiền mặt của bạn. Ví dụ, nếu mức tiền mặt được dự báo sát với quyền được rút tiền, điều này chỉ ra rằng bạn nên cảnh giác và nên đưa dòng tiền mặt ở mức chấp nhận được. Xin xem hướng dẫn về làm thế nào để xác định các vấn đề về dòng tiền mặt tiềm năng
Các báo cáo tài chính cơ bản giúp bạn điều hành doanh nghiệp.

 
Leave a comment

Posted by on January 15, 2012 in Accounting

 

Tài liệu Orders

Vietnamese – English translation:

1.       We acknowledge with thanks for your offer dated October 15th in which your offered the rush mat and are pleased to place an order with you on the following terms and conditions:

2.       We accept your price quoted in your offer dated… and are enclosing our firm order for…

3.       The following documents should be made triplicate to be handed over your payment.

4.       A set of technical documents should be sent to us via air-mail for Vietnamese translation purpose.

5.       We would like to stress that punctual delivery would be extremely important as this order takes a large part in our construction work.

6.       We would be grateful for your prompt delivery because we are urgently in need of the products to complete orders from our clients.

7.       We are looking forward to receiving your acceptance/delivery notice by post.

8.       Please confirm your acceptance for this order and this acceptance should reach us not later than… days after the date of this order.

9.       If the products sell well as expected, we will place further orders in the near future.

10.   We hope that fulfilling this order will lead to our good business relationship in the future.

Letter – writing:

Dear Sir

We acknowledge with thanks for your catalogue, sample and quotation of the KS20A vacuum cleaners sent to us earlier and have pleasure in taking order on the following terms and conditions:

1.       Commodity: Vacuum cleaners – series: KS20A.

2.       Quality and specifications: as per attached specification and designs.

3.       Quantity: 3000 pieces.

4.       Price:   unit price: USD 0.5/piece.

For this order, we accept the price quoted, but hope you offer us a 6% quantity discount for orders of over 2000 units as this is our first order.

5.       Payment:  because the product is new in our marker and it takes a long time to be consumed, we would highly appreciate it if you could accept payment by L/C at 8 months sight.

If our sales targets in the market are met on this first order, we shall be willing to sign a contract of sales agent with you to boost consumption of the product within Vietnam’s territory because we have a wide range of stores throughout most big cities.

Please confirm your acceptance of this order and such acceptance should reach us not later than 15 days after the date of this order.

We hope that this will be the beginning of a good business relationship in the future.

Yours faithfully

Demo (Mr.)

 
Leave a comment

Posted by on January 15, 2012 in Sale

 

FOB (Incoterm)

FOB là một thuật ngữ viết tắt trong tiếng Anh của cụm từ Free On Board, nghĩa là Miễn trách nhiệm Trên Boong tàu nơi đi còn gọi là ” Giao lên tàu”. Nó là một thuật ngữ trong thương mại quốc tế, được thể hiện trong Incoterm. Nó là tương tự với FAS, nhưng bên bán hàng cần phải trả cước phí xếp hàng lên tàu. Sự chuyển dịch các rủi ro diễn ra khi hàng hóa vượt qua lan can tàu tại cảng xếp hàng. Về mặt quốc tế, thuật ngữ này chỉ rõ cảng xếp hàng, ví dụ “FOB New York” hay “FOB Hải Phòng”. Các khoản chi phí khác như cước vận tải, phí bảo hiểm thuộc về trách nhiệm của bên mua hàng.

Hoa Kỳ-Canada

Về mặt quốc nội, trong phạm vi Hoa Kỳ và Canada, FOB thuần túy chỉ được hiểu là miễn trách nhiệm trên boong tàu và thuật ngữ này được sử dụng trong hai cụm từ phổ biến là “FOB điểm xếp hàng” và “FOB điểm đến”, để phân biệt khi nào thì quyền đối với hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua. Theo các điều kiện của “FOB điểm xếp hàng”, thì quyền đối với hàng hóa được chuyển tới bên mua tại điểm xếp hàng. Tương tự, theo điều kiện “FOB điểm đến”, quyền đối với hàng hóa được chuyển sang bên mua khi hàng được đưa tới điểm đến. Sự phân biệt này là quan trọng do nó xác định ai là người trả cước phí vận chuyển hàng hóa: ai là người giữ quyền [sở hữu] đối với hàng hóa tại thời điểm vận chuyển nó sẽ là bên thanh toán chi phí vận tải hàng hóa đó. Ngoài ra, nó cũng là quan trọng nếu như chuyến hàng có tổn thất trong khi vận chuyển thì chủ sở hữu khi đó cần đưa ra các khiếu nại đối với việc vận chuyển. Lưu ý rằng, việc sử dụng các thuật ngữ theo kiểu Mỹ-Canada này là không tương thích với các định nghĩa chính thức của Incoterm, và nó không thể sử dụng trong vận tải quốc tế.

Kế toán-tài chính

Với sự ra đời của thương mại điện tử (e-commerce), phần lớn các giao dịch thương mại điện tử diễn ra theo các điều kiện của “FOB điểm giao hàng” hay “FCA điểm giao hàng”. Phần lớn các phân tích coi đây là sự bất lợi của mua bán hàng trực tuyến khi so sánh với việc mua bán truyền thống của con người, trong đó “FOB điểm đến” là chủ yếu. Khi kiểm kê hàng tồn kho, các hàng hóa đang trên đường vận chuyển đóng một vai trò quan trọng, phụ thuộc vào việc nó có được đưa vào bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp hay không. Các mặt hàng theo điều kiện “FOB điểm giao hàng/điểm đến” được đánh dấu kiểm soát để xem xét nếu như bên mua có quyền đối với hàng hóa. Nếu có quyền, thì hàng hóa được bổ sung thêm vào bảng kiểm kê hàng hóa, nhưng không thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Nếu không có quyền, hàng hóa được coi như là các mặt hàng gửi bán, có nghĩa là chúng vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà cung cấp (bên ủy thác bán).

 
Leave a comment

Posted by on January 15, 2012 in Sale

 

CPI,GDP,GNP.???

Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index (CPI))
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường thay đổi chi phí của một giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định, thường gồm các lĩnh vực nhà ở, điện, thực phẩm và giao thông. CPI thường được dùng như dấu hiệu đo lường lạm phát và tính hàng tháng.
Kể từ tháng 5/2006, Chỉ số giá tiêu dùng do Tổng cục Thống kê công bố được tính theo phương án đã cập nhật và dùng cho giai đoạn 2006-2010. Phương án mới có một số cải tiến:
1/ Năm gốc so sánh của Chỉ số giá tiêu dùng trong giai đoạn 2006-2010 là năm 2005 (thay cho gốc so sánh 2000)
2/ Danh mục hàng hoá, dịch vụ (còn gọi là “rổ hàng hoá”) điều tra giá để tính chỉ số đã được cập nhật, gồm 494 loại hàng hoá, dịch vụ phổ biến tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình trong giai đoạn hiện tại. So với “rổ hàng hoá” thời kỳ 2000-2005, số lượng các loại hàng hoá dịch vụ tăng gần 100 mặt hàng, trong đó bổ sung thêm nhiều loại hàng hoá dịch vụ cao cấp, đã được tiêu dùng nhiều như điện thoại di động, máy xay sinh tố, lò vi sóng, phí truyền hình cáp, dịch vụ du lịch nước ngoài….
3/ Quyền số để tính chỉ số đã được cập nhật trên cở sở kết quả điều tra Khảo sát mức sống dân cư 2004 và điều tra bổ sung tại 10 tỉnh, thành phố năm 2005 của Tổng cục Thống kê.

Tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product.)

Trong kinh tế, tổng sản phẩm nội địa hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia, nó còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội. GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó.
Trên thực tế có tồn tại hai loại GDP là GDP thực tế và GDP danh nghĩa. GDP danh nghĩa chỉ tính đến tổng số tiền chi phí cho GDP thì GDP thực tế lại có tính đến các yếu tố như sự mất giá của tiền tệ để ước lượng chính xác hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ thực sự tạo thành GDP. GDP danh nghĩa đôi khi còn được gọi là GDP tiền tệ trong khi GDP thực tế còn được gọi là GDP giá cố định hay GDP điều chỉnh lạm phát.
Có ba cách tính GDP đó là tính theo tổng giá trị tiêu dùng, tổng các khoản chi tiêu hoặc tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Về lý thuyết, dù theo cách tính nào cũng cho kết quả tính GDP như nhau. Nhưng trong nhiều báo cáo thống kê, lại có sự chênh lệch nhỏ giữa kết quả theo ba cách tính. Đó là vì có sai số trong thống kê.
Theo cách tính GDP là tổng tiêu dùng, các nhà kinh tế học đưa ra một công thức như sau:
GDP = C + I + G + NX
Trong đó:
• C: là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế.
• I: là đầu tư của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh. Đây được coi là tiêu dùng của các nhà đầu tư. Cần phân biệt rõ đầu tư này với các đầu tư mang tính đầu cơ tích trữ vào thị trường chứng khoán và trái phiếu.
• G: là tổng chi tiêu của chính phủ (tiêu dùng của chính phủ). Quan hệ của phần này đối với các phần còn lại của GDP được mô tả trong lý thuyết khả dụng (có thể đem đi tiêu).
NX: là “xuất khẩu ròng” của nền kinh tế. Nó bằng xuất khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế khác đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế trong tính toán sản xuất) – nhập khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế trong tính toán đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế khác sản xuất).
GDP theo cách tính tổng chi phí (lúc này không gọi là GDP nữa, mà gọi là tổng chi tiêu nội địa hay GDE (viết tắt của Gross Domestic Expenditure) được tính toán tương tự, mặc dù trong công thức tính tổng chi phí không kê khai những khoản đầu tư ngoài kế hoạch (bỏ hàng tồn kho vào cuối chu kỳ báo cáo) và nó phần lớn được sử dụng bởi các nhà kinh tế. Mặc dù GDP được sử dụng rộng rãi trong kinh tế, giá trị của nó như là một chỉ số vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. GDP còn tồn tại rất nhiều hạn chế, bao gồm:
• Kết quả tính GDP theo các phương thức khác nhau làm người ta bối rối, nhất là khi so sánh xuyên quốc gia.
• GDP, như một chỉ số về kích cỡ của nền kinh tế, nhưng lại không chuẩn xác trong đánh giá mức sống.
• GDP không tính đến kinh tế ngầm, kinh tế phi tiền tệ như kinh tế trao đổi, các công việc tình nguyện, chăm sóc trẻ em miễn phí do các ông bố bà mẹ (không làm việc) đảm nhiệm hay sản xuất hàng hóa tại gia đình. Vì vậy, tại các nước mà việc kinh doanh thực thi một cách không chính thức chiếm phần lớn thì số liệu của GDP sẽ kém chính xác.
GDP không tính đến tính hài hòa của sự phát triển. Ví dụ một nước có thể có tốc độ tăng trưởng GDP cao do khai thác khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên.
• GDP tính cả những công việc không đem lại lợi ích ròng và không tính đến những hiệu ứng tiêu cực. Ví dụ, một xí nghiệp làm tăng GDP nhưng gây ô nhiễm một con sông và người ta phải đầu tư để cải tạo lại môi trường. Việc này cũng làm tăng GDP.
GDP cũng không cho ta sự phản ánh trung thực của sự phân chia lợi ích trong phạm vi đất nước. Có thể có những nhóm người không thu được lợi ích gì từ lợi ích kinh tế chung. GDP cao có thể là kết quả của một số người giàu có đem lại cho nền kinh tế trong khi phần lớn dân chúng sống dưới mức nghèo khổ.

Tổng sản phẩm quốc dân (GNP (Gross National Product)

Tổng sản phẩm quốc dân hay Tổng sản phẩm quốc gia là một chỉ tiêu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước nó được tính là tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ra trong một khoảng thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính, không kể làm ra ở đâu (trong hay ngoài nước).
Sản phẩm cuối cùng là hàng hóa được tiêu thụ cuối cùng bởi những người tiêu dùng chứ không phải là những sản phẩm được sử dụng như là sản phẩm trung gian trong sản xuất những sản phẩm khác. Ví dụ, một chiếc ô tô bán cho người tiêu dùng là một sản phẩm cuối cùng; các thành phần như lốp được bán cho nhà sản xuất ô tô là sản phẩm trung gian. Cũng chiếc lốp đó, nếu bán cho người tiêu dùng thì nó lại là sản phẩm cuối cùng. Chỉ có sản phẩm cuối cùng mới được tính trong thu nhập quốc gia, do việc đưa cả sản phẩm trung gian vào sẽ dẫn tới việc tính kép làm tăng ảo giá trị thực sự của thu nhập quốc gia. Ví dụ, trong trường hợp chiếc lốp được bán cho nhà sản xuất ôtô, giá trị của nó đã được tính khi nó được nhà sản xuất lốp bán cho nhà sản xuất ô tô, nếu sau đó một lần nữa được tính trong giá trị chiếc ô tô khi nhà sản xuất ô tô bán cho người tiêu dùng thì sẽ làm cho giá trị GNP tăng lên.
Thu nhập được tính như là một phần của GNP, phụ thuộc vào ai là chủ sở hữu các yếu tố sản xuất chứ không phải là việc sản xuất diễn ra ở đâu. Ví dụ, một nhà máy sản xuất ô tô do chủ sở hữu là công dân Mỹ đầu tư tại Việt Nam thì lợi nhuận sau thuế từ nhà máy sẽ được tính là một phần của GNP của Mỹ chứ không phải của Việt Nam bởi vì vốn sử dụng trong sản xuất (nhà xưởng, máy móc, v.v.) là thuộc sở hữu của người Mỹ. Lương của công nhân người Việt là một phần của GNP của Việt Nam, trong khi lương của công nhân Mỹ làm việc tại đó là một phần của GNP của Mỹ. Có nhiều cách tính tổng sản phẩm quốc dân, dưới đây là cách tính theo quan điểm chi tiêu xã hội:
GNP = C + I + G + (X – M) + NR
Trong đó:
• C = Chi phí tiêu dùng cá nhân
• I = Tổng đầu tư cá nhân quốc nội
• G = Chi phí tiêu dùng của nhà nước
• X = Kim ngạch xuất khẩu ròng các hàng hóa và dịch vụ
• M = Kim ngạch nhập khẩu ròng của hàng hóa và dịch vụ
• NR= Thu nhập ròng từ các tài sản ở nước ngoài (thu nhập ròng)
Còn một chỉ số khác hay được nhắc kèm với GNP đó là chỉ số GNI_Gross National Income, tức Tổng thu nhập quốc gia hay Tổng thu nhập quốc dân. Giá trị của nó tương đương với giá trị của GNP. Tuy nhiên, người ta phân biệt chúng, do cách thức tiếp cận vấn đề là dựa trên các cơ sở khác nhau. GNP dựa trên cơ sở sản xuất ra sản phẩm mới, còn GNI dựa trên cơ sở thu nhập của công dân. Điều này là quan trọng để tiếp cận các khái niệm NNP và NNI. Khi đó phải tính đến khấu hao và các loại thuế gián tiếp, và NNI sẽ luôn luôn nhỏ hơn NNP một lượng bằng giá trị của thuế gián tiếp.

 
Leave a comment

Posted by on December 4, 2011 in Business, Sale